Em hãy tìm câu trả lời đúng trong các bài tập sau đây.
8.1. Biểu hiện của bình đẳng trong hôn nhân là:
a. Người chồng phải giữ vai trò chính trong đóng góp về kinh tế và quyết định công việc lớn trong gia đình.
b. Công việc của người vợ là nội trợ gia đình và chăm sóc con cái, quyết định các khoản chi tiêu hàng ngày của gia đình.
c. Vợ chồng cùng bàn bạc, tôn trọng ý kiến của nhau trong việc quyết định các công việc của gia đình.
d. Chỉ người chồng mới có quyền lựa chọn nơi cư trú, quyết định số con và thời gian sinh con.
e. Chỉ người vợ mới có nghĩa vụ thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc và giáo dục con cái.
g. Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.
8.2. Bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình được hiểu là:
a. Lợi ích cá nhân phục tùng lợi ích chung của gia đình, dòng họ, trên nói dưới phải nghe.
b. Vai trò của người chồng, người cha, người con trai trưởng trong gia đình được đề cao, quyết định toàn bộ công việc trong gia đình.
c. Các thành viên trong gia đình đối xử công bằng, dân chủ, tôn trọng lẫn nhau.
d. Tập thể gia đình quan tâm đến lợi ích từng cá nhân, từng cá nhân phải quan tâm đến lợi ích chung của gia đình.
e. Các thành viên trong gia đình có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình.
8.3. Quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong lao động thể hiện:
a. Mọi công dân không phân biệt giới tính, độ tuổi đều được Nhà nước bố trí việc làm.
b. Nam và nữ bình đẳng về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.
c. Chỉ bố trí lao động nam làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.
d. Người sử dụng lao động ưu tiên nhận nữ vào làm việc khi cả nam và nữ đều có đủ tiêu chuẩn làm công việc mà doanh nghiệp đang cần.
e. Lao động nữ được hưởng chế độ thai sản, hết thời gian nghỉ thai sản, khi trở lại làm việc, lao động nữ vẫn được bảo đảm chỗ làm việc.
a. Chị L và anh T:
Vi phạm quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân và gia đình: Việc anh T yêu cầu chị L nghỉ việc để chăm sóc gia đình là vi phạm quyền tự do nghề nghiệp và quyền bình đẳng giới của phụ nữ trong hôn nhân. Theo pháp luật, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng, không có sự phân biệt về công việc, tài chính hay quyền quyết định trong gia đình. Quyền quyết định về công việc hay tài chính trong gia đình phải được thỏa thuận giữa hai vợ chồng chứ không thể chỉ do một người quyết định.
Hậu quả có thể xảy ra: Việc kiểm soát tài chính và ép vợ nghỉ việc có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong quan hệ vợ chồng, gây ra xung đột và ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân của chị L. Chị L có thể cảm thấy bị áp bức, không tự do trong cuộc sống, dẫn đến mất hòa hợp gia đình hoặc thậm chí là ly hôn.
b. Ông M và di chúc:
Vi phạm quyền thừa kế của con nuôi: Theo pháp luật Việt Nam, con nuôi có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi như con ruột, trừ khi có các điều kiện đặc biệt. Việc ông M lập di chúc để lại tài sản cho con trai cả và loại trừ hai người con nuôi là vi phạm quyền thừa kế hợp pháp của con nuôi.
Hậu quả có thể xảy ra: Di chúc của ông M có thể bị kiện ra tòa án, và hai người con nuôi có thể yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Việc này có thể dẫn đến tranh chấp tài sản trong gia đình và ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên.
a) -Anh T đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong hôn nhân khi ép buộc chị L nghỉ việc để chăm sóc gia đình và kiểm soát toàn bộ tài chính
-Vì theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có quyền bình đẳng trong mọi mặt của đời sống hôn nhân, bao gồm quyền tự do lao động và quản lý tài sản chung. Việc anh T áp đặt quyền kiểm soát tài chính có thể bị xem là hành vi bạo lực kinh tế, làm chị L mất đi sự tự chủ trong cuộc sống
- Nếu tình trạng này kéo dài, có thể dẫn đến mâu thuẫn gia đình, làm giảm chất lượng cuộc sống của chị L, thậm chí có thể là nguyên nhân dẫn đến ly hôn. Ngoài ra, anh T có thể bị xử phạt hành chính nếu có hành vi ép buộc hoặc kiểm soát tài chính quá mức, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của vợ
b)- Ông M đã vi phạm quy định của pháp luật khi lập di chúc tước quyền thừa kế của hai người con nuôi và chỉ để lại tài sản cho con trai cả
- Vì theo Bộ luật Dân sự 2015, con nuôi có quyền thừa kế ngang bằng với con ruột, do đó, quyết định của ông M là trái với quy định pháp luật. Nếu hai người con nuôi thuộc diện thừa kế bắt buộc, họ vẫn có quyền nhận phần di sản theo quy định, ngay cả khi di chúc không nhắc đến họ
-Việc tước quyền thừa kế của con nuôi có thể dẫn đến tranh chấp gia đình, gây mất đoàn kết và làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành viên. Nếu hai người con nuôi khởi kiện, tòa án có thể tuyên bố một phần hoặc toàn bộ di chúc không có hiệu lực, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ